CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 09/NQ-CP

Hà Nội, ngày 27 tháng 01 năm 2014

 

NGHỊ QUYẾT

PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 01 NĂM 2014

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Nghị định số 08/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở thảo luận của các thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại phiên họp tháng 01 năm 2014, tổ chức ngày 25 tháng 01 năm 2014,

QUYẾT NGHỊ:

1. Về tình hình kinh tế – xã hội tháng 01 năm 2014; tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014; công tác chuẩn bị phục vụ nhân dân đón Tết Giáp Ngọ 2014:

Chính phủ thống nhất đánh giá: Các bộ, ngành, địa phương đã quán triệt và nghiêm túc thực hiện các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ; đã ban hành và triển khai đồng bộ, khẩn trương Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014; tập trung triển khai giao kế hoạch và dự toán năm 2014 ở tng cấp, tng ngành ngay từ đầu năm và triển khai thực hiện chủ động, kịp thời. Tình hình kinh tế – xã hội tháng 01 năm 2014 đạt kết quả tích cực: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 01 tăng 0,69% so với tháng 12 năm 2013, là mức tăng thấp nhất trong vòng 5 năm trở lại đây; Chsố sản xuất công nghiệp tăng khoảng 3% so với cùng kỳ năm 2013; giá trị sản xut nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản tương đối ổn định; khu vực dịch vụ tiếp tục phát triển khá; hoạt động du lịch diễn ra sôi nổi, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2013. An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; đời sống của người dân, đặc biệt là những người nghèo, đng bào dân tộc thiểu số, người già neo đơn, người tàn tật được quan tâm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được bo đảm, công tác đối ngoại được tăng cường.

Các cấp, các ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương quan tâm, tập trung chỉ đạo, triển khai sớm các điều kiện phục vụ nhân dân đón Tết. Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về trợ giúp người có công, gia đình chính sách, đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn, hộ nghèo đã thu hút được sự quan tâm và hưởng ứng của toàn xã hội. Thị trường hàng hóa phục vụ Tết phong phú, nguồn cung đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường. Hàng hóa Việt Nam chiếm ưu thế về thị phần ở trong nước. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng, chống dịch bệnh được chỉ đạo chặt chẽ. Công tác vận chuyển hành khách, vận tải hàng hóa đáp ứng yêu cầu đi lại của nhân dân; bảo đảm trật tự an toàn giao thông được tổ chức triển khai chu đáo. Công tác phòng, chống các hành vi gian lận thương mại, buôn bán hàng lậu, hàng cấm được tăng cường, nhất là tại những địa bàn, tuyến giao thông trọng điểm. Các phương án bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là phòng, chống tội phạm, cháy, nổ được tập trung chỉ đạo.

Tuy nhiên, trong tháng, rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía Bắc, xâm nhập mặn tại một số tỉnh miền Nam đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến nguồn cung rau quả, thực phẩm; thời tiết không thuận lợi cũng đã ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng và đánh bắt hải sản. Tình hình tai nạn, cháy nổ đã diễn biến phức tạp tại một số địa phương.

Để thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ngay từ những ngày đầu năm, trước mắt là tổ chức Tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014 vui tươi, an toàn, lành mạnh, tiết kiệm; đồng thời triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh ngay sau những ngày nghỉ Tết, Chính phủ yêu cầu:

- Các Bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục triển khai khẩn trương cụ thể hóa các giải pháp đã được Chính phủ đra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh; bảo đảm tiến độ thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ năm 2014 ngay từ những tháng đầu năm. Nghiêm túc triển khai, tổ chức thực hiện văn bản số 178-CV/TW ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tchức các hoạt động nhân dịp Tết; Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 05 tháng 12 m 2013 và Công điện số 98/CĐ-TTg ngày 15 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội dịp Tết;

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo thúc đẩy tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh ngay sau đợt nghỉ Tết; đặc biệt là bố trí tín dụng đối với lĩnh vực khai thác, đánh bắt thủy hải sản để ngăn chặn và đy lùi các hoạt động tín dụng đen trong lĩnh vực này;

- Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, chính quyền các địa phương nhân rộng mô hình bình ổn giá trong và sau dịp Tết; hạn chế dần và tiến tới chấm dứt không sử dụng ngân sách nhà nước để bù lãi suất vay bình ổn giá; phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi buôn bán hàng lậu, trốn thuế, đầu cơ tăng giá, nhất là quản lý, giám sát chặt chẽ việc vận chuyn gia súc, gia cầm, thực phẩm có nguồn gốc từ gia súc, gia cầm trên các tuyến giao thông giáp biên giới để nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chng dịch cúm gia cm lây lan qua biên giới.

- Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, y ban nhân dân các địa phương miền núi, nơi xảy ra rét đậm, rét hại, băng tuyết, thường xuyên nắm tình hình, đề phòng thiếu hụt nguồn cung hàng hóa cục bộ, triển khai các biện pháp khẩn cấp bảo vệ đàn gia súc, gia cầm và cây trồng;

- Bộ Y tế tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng cường thanh tra các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật; chú trọng nâng cao chất lượng hơn nữa trong công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân;

- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, đoàn thể, địa phương tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; hỗ trợ, động viên kịp thời cả về vật chất lẫn tinh thần, bảo đảm cho các hộ nghèo, đi tượng chính sách, người có công, người già neo đơn, đồng bào vùng bị thiên tai có điều kiện đón Tết trong không khí vui tươi, ấm no, hạnh phúc; không được để người dân phải chịu đói, rét trong dịp Tết Nguyên đán và giáp hạt năm 2014;

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam có kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin tuyên truyền tạo khí thế vui tươi và tăng niềm tin cho nhân dân bước vào năm mới;

- Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm nhu cầu đi lại của nhân dân trước, trong và sau dịp nghỉ Tết Nguyên đán Giáp Ngọ; kim tra, xử lý nghiêm mọi hành vi đu cơ vé, chèo kéo, ép khách;

- Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các quan, địa phương bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; làm tốt công tác trấn áp tội phạm, phòng, chống cháy, nổ trong dịp Tết; bố trí lực lượng thường xuyên tuần tra, kiểm soát, bảo đảm an toàn giao thông, giảm thiểu ùn tắc và tai nạn giao thông, đặc biệt tại các thành phlớn, địa bàn trọng điểm và giao thông nông thôn.

- Các Bộ: Công an, Ngoại giao, Quốc phòng, Giao thông vận tải, Công Thương, Y tế, Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm báo cáo kịp thời, đầy đủ tình hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, giá cả các mặt hàng thiết yếu; công tác an sinh xã hội, chăm lo Tết cho các gia đình chính sách, đồng bào các dân tộc, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh; hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí; công tác thông tin tuyên truyền; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

- Bộ Công Thương và các bộ, cơ quan liên quan báo cáo Thủ tưng Chính phủ về tình hình Tết và đề xuất các nhiệm vụ, công việc cần triển khai ngay sau đợt nghỉ Tết Nguyên đán. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ, khẩn trương tchức triển khai thực hiện những công việc sau đợt nghỉ Tết theo chương trình, kế hoạch đã đề ra, không để ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trước, trong và sau Tết.

2. Về giải quyết vướng mắc của Tổng công ty Hàng không Việt Nam đối với vn đề cho thuê lại lao động:

Nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc của Tổng công ty Hàng không Việt Nam trong hoạt động sản xut, kinh doanh theo đ án tái cơ cu đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Chính phủ thống nhất:

a) Cho phép thực hiện việc cho thuê lại lao động giữa đơn vị thuộc Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Hàng không thuộc Tổng công ty Hàng không Việt Nam thuê lại lao động đối với những công việc thuộc Danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành;

b) Giao Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2013/NĐ-CP trước ngày 30 tháng 3 năm 2014.

3. Về việc thực hiện quy định tại Khoản 1, Điều 43 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

Chính phủ thống nhất với đề nghị của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: Đối với người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài bỏ trốn khỏi nơi làm việc theo hợp đồng hoặc ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hạn hợp đồng mà tự nguyện vnước trước ngày 10 tháng 3 năm 2014 thì không phạt tiền như quy định tại Điều 35 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013.

4. Về Dự án Luật căn cước công dân:

Giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp vi Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến Hội đồng thẩm định và thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh dự án Luật căn cước công dân; báo cáo xin ý kiến Ban Chỉ đạo Đán tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến dân cư giai đoạn 2013 - 2020; báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc trình Quc hội.

5. Về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015:

- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tập trung rà soát những dự án dự kiến đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015; điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 bảo đảm thực sự cần thiết và khả thi;

- Bộ Tư pháp thẩm định chặt chẽ trong việc xây dựng Chương trình; theo dõi, đôn đc, kim tra việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đối với các dự án luật, pháp lệnh phức tạp, liên quan đến nhiều bộ, ngành hoặc có nhiều ý kiến khác nhau thì Bộ chủ trì soạn thảo chủ động nghiên cứu, đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến đđịnh hướng ngay từ đầu cho việc nghiên cứu, soạn thảo bảo đảm chất lượng văn bản, tính khả thi của dự án. Bộ Tài chính bố trí kinh phí xây dựng các dự án luật, pháp lệnh;

- Bộ Tư pháp chủ tsoạn thảo, trình Thủ tướng Chính phủ ký, ban hành Quyết định thành lập Hội đng thm định các dự án luật, pháp lệnh thuộc Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 và 2015 sau khi được Quốc hội thông qua;

- Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu ý kiến thành viên Chính phủ, chỉnh lý dự thảo đề nghị của Chính phủ v Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015; điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII và năm 2014; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 02 năm 2014 trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

6. Về dự thảo Nghị quyết những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia giai đoạn 2014 – 2015

Các thành viên Chính phủ tham gia góp ý kiến trực tiếp dự thảo Nghị quyết, gửi đến Văn phòng Chính phủ trước ngày 20 tháng 02 năm 2014. Giao Văn phòng Chính phủ tiếp thu ý kiến các thành viên Chính phủ, hoàn chỉnh dự thảo Nghị quyết, trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 02 năm 2014.

7. Về kết quả xác định Chỉ số cải cách hành chính năm 2012 của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

Chính phủ đã nghe báo cáo của Bộ Nội vụ về kết quả xác định Chỉ số cải cách hành chính năm 2012 của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Giao các bộ, cơ quan, địa phương, trước hết là người đứng đầu căn cứ kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2012, tăng cường chỉ đạo, có biện pháp cụ thể khắc phục những nội dung cải cách hành chính có điểm số thấp; xác định giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính hàng năm.

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương chấp hành quy định về thời hạn công bố Chỉ số cải cách hành chính vào đầu quý II hàng năm, bảo đảm thực chất, minh bạch và kịp thời./.

 

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- UBTW Mặt trận T quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN; Trợ lý ca TTgCP, PTTg; các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo, TGĐ Cổng TTĐT CP;
- Lưu: Văn thư, TH (3b).

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng

 

Nghị quyết 09/NQ-CP năm 2014 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01

BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 80/QĐ-LĐTBXH

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2014

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC LĨNH VỰC LAO ĐỘNG, NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ XÃ HỘI NĂM 2014

BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

Căn cứ Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18/04/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;

Căn cứ Nghị định số 106/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;

Căn cứ Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014;

Căn cứ Quyết định số 2336/QĐ-TTg ngày 30/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về giao kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2014; Quyết định số 2337/QĐ-TTg ngày 30/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2014;

Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình công tác lĩnh vực lao động, người có công và xã hội năm 2014.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

 

 

Nơi nhận:
- Như điều 3 (để thực hiện);
– Thường trực Chính phủ (để báo cáo);
– Văn phòng Chính phủ, Ban Kinh tế Trung ương,
– Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tổng Bí thư, Đảng ủy Khối cơ quan Trung ương (để báo cáo);
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ban chỉ đạo các Vùng (để phối hợp chỉ đạo thực hiện);
– UBTWMTTQ Việt Nam, các tổ chức Chính trị – Xã hội (để phối hợp chỉ đạo thực hiện);
– UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương(để phối hợp chỉ đạo thực hiện);
– Các đ/c Thứ trưởng (để chỉ đạo thực hiện);
– Lưu: VT, KHTC.

BỘ TRƯỞNG

Phạm Thị Hải Chuyền

 

CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC

LĨNH VỰC LAO ĐỘNG, NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ XÃ HỘI NĂM 2014

Để góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2014 đã được Quốc hội thông qua là: Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng hợp lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đẩy mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí cải thiện môi trường kinh doanh. Bảo đảm quốc phòng và an ninh.

Quán triệt Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Chương trình công tác lĩnh vực lao động, người có công và xã hội năm 2014 với các nội dung chủ yếu sau:

I. CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

1. Đảm bảo tiến độ, chất lượng xây dựng văn bản, đề án theo chương trình công tác của Chính phủ (có quyết định riêng).

2. Tạo việc làm cho 1.600 nghìn người, trong đó: tạo việc làm trong nước 1.513 nghìn người; đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài 87 nghìn người.

3. Tỷ lệ lao động qua đào tạo cuối năm 2014 đạt 52%.

4. Mở rộng diện tham gia và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; cải thiện điều kiện làm việc, giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và tranh chấp lao động; quản lý chặt chẽ lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

5. Tuyển mới dạy nghề 1.780 nghìn người, trong đó: tuyển mới cao đẳng, trung cấp nghề 280 nghìn người; sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên 1.500 nghìn người (trong đó dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg là 500 nghìn người).

6. Cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người có công: 97% hộ gia đình chính sách người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình hộ dân cư nơi cư trú; 96% xã phường làm tốt công tác Thương binh - Liệt sỹ và Người có công.

7. Giảm tỷ lệ hộ nghèo 1,7 – 2,0% so với năm 2013, trong đó các huyện nghèo giảm 4%.

8. Cải thiện, nâng cao đời sống cho đối tượng bảo trợ xã hội, tạo điều kiện để các đối tượng vươn lên hoà nhập cộng đồng; chủ động dự trữ nguồn lực tại chỗ kịp thời khắc phục hậu quả, ổn định sản xuất và đời sống nhân dân vùng bị thiên tai, mất mùa, thiếu đói.

9. Thực hiện các quyền của trẻ em, đảm bảo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được bảo vệ, chăm sóc, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em phát triển toàn diện; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em; 82% xã phường đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em; 85% số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được bảo vệ, chăm sóc, giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn xuống dưới 5,5%; 65% trẻ em được phát hiện có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được can thiệp để giảm thiểu; 100% trẻ em dưới 6 tuổi tiếp cận các dịch vụ y tế không phải trả tiền.

10. Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế – xã hội; giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; nâng cao năng lực, tạo điều kiện, cơ hội cho phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số tiếp cận thuận lợi các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động, giáo dục, y tế.

11. Giảm phát sinh mới tệ nạn xã hội. Nâng cao chất lượng cai nghiện phục hồi, quản lý sau cai, cai nghiện, phục hồi 35.000 lượt người, trong đó: cai nghiện tại các Trung tâm khoảng 20.000 lượt người; tại cộng đồng 15.000 lượt người; dạy nghề, tạo việc làm sau cai nghiện cho 14.000 người. Phòng ngừa nguy cơ phát sinh mới tệ nạn mại dâm; phòng, chống buôn bán người vì mục đích mại dâm, bóc lột tình dục, góp phần gìn giữ truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

II. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ VỀ LAO ĐỘNG, NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ XÃ HỘI NĂM 2014

1. Xây dựng và triển khai thực hiện đồng bộ luật, văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, dự án về lao động, người có công và xã hội

1.1. Các đơn vị thuộc Bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao tập trung nghiên cứu, xây dựng đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ thuộc Chương trình công tác năm 2014 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là các luật chuẩn bị trình Quốc hội như: Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dạy nghề; Luật An toàn, vệ sinh lao động; các Nghị định quy định chi tiết thi hành Bộ luật Lao động, Luật Việc làm; đảm bảo tiến độ, chất lượng thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo Nghị quyết số 70/NQ – CP ngày 01/11/2012 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với Văn phòng Bộ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình công tác đảm bảo chất lượng, tiến độ quy định; tổng hợp báo cáo Bộ tình hình, tiến độ thực hiện (tháng, quý, năm).

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ động nghiên cứu, tham gia ý kiến vào dự thảo các luật, văn bản quy phạm pháp luật của trung ương ngay trong quá trình soạn thảo để kịp thời nắm bắt, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn triển khai thực hiện kịp thời khi văn bản có hiệu lực.

1.2. Viện Khoa học Lao động – Xã hội chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn các hoạt động của ngành trên các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội, trong phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh – quốc phòng. Chủ động xây dựng kế hoạch về nghiên cứu tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật của Bộ; đánh giá tác động của hệ thống pháp luật với hội nhập kinh tế quốc tế, biến đổi khí hậu… để đề xuất bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về an sinh xã hội; nâng cao chất lượng công tác dự báo phục vụ việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn trên các lĩnh vực của ngành.

1.3. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố nghiên cứu, trình Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn chỉ đạo thực hiện pháp luật về lao động, người có công và xã hội; các cơ chế, chính sách đặc thù; các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình quốc gia, Dự án, Đề án…; xây dựng mô hình, cách làm phù hợp của địa phương để tổ chức thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao trên địa bàn.

1.4. Các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động thông tin chính xác, kịp thời về các cơ chế, chính sách, sự chỉ đạo, điều hành thuộc phạm vi quản lý của mình; phổ biến những mô hình có hiệu quả, bền vững, những kinh nghiệm tốt trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ của ngành; coi thông tin tuyên truyền là khâu đột phá đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp với từng địa phương, từng nhóm đối tượng, kết hợp với hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội, sinh hoạt văn hóa cộng đồng, họ tộc… ; sử dụng và phát huy có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương, nhất là các báo, tạp chí và đơn vị thông tin truyền thông của ngành.

2. Phát triển thị trường lao động, tạo việc làm cho người lao động

Cục Việc làm, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh/thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương:

- Tổng hợp theo dõi, đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu tạo việc làm trong nước cho 1.513 nghìn người; tỷ lệ lao động qua đào tạo cuối năm 2014 đạt 52%. Thực hiện tốt vai trò điều tiết thị trường lao động trong phạm vi cả nước, giữa các khu vực, địa phương; làm đầu mối để kết nối giữa các địa phương có nhu cầu về nguồn lao động với các tỉnh, thành phố có nguồn lao động lớn.

- Xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Việc làm: Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp; Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế quản lý, sử dụng quỹ quốc gia về việc làm và các văn bản hướng dẫn thi hành khác.

- Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, các chương trình, dự án đã ban hành nhằm tạo nhiều việc làm mới, nâng cao thu nhập cho người lao động, nhất là lao động nông thôn, lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

- Theo dõi, cập nhật thường xuyên thông tin cung – cầu lao động; tăng cường các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm của hệ thống Trung tâm giới thiệu việc làm, đặc biệt là phát huy vai trò trung tâm của 4 Trung tâm giới thiệu việc làm khu vực; đa dạng hoá các hoạt động giao dịch việc làm; tăng tần suất, nâng cao hiệu quả tổ chức sàn giao dịch việc làm tại địa phương; kết nối hệ thống thông tin thị trường lao động địa phương với hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia.

- Theo dõi tình hình lao động việc làm các địa phương; tình hình biến động lao động trong quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; các doanh nghiệp gặp khó khăn phải giảm quy mô, ngừng sản xuất, phá sản…, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các thành phố lớn để kịp thời đề xuất giải pháp xử lý những vấn đề phát sinh.

- Tăng cường quản lý người lao động nước ngoài làm việc trên địa bàn; tổ chức đăng ký, làm thủ tục cấp phép cho lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật. Tổng hợp theo dõi, báo cáo tình hình lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014: dự án Hỗ trợ phát triển thị trường lao động; dự án Vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia Việc làm; dự án Nâng cao năng lực, truyền thông và giám sát (Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012-2015). Theo dõi, giám sát việc sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

3. Đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động

Cục Quản lý lao động ngoài nước chủ trì, phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố và các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương:

- Tổ chức thực hiện đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu xuất khẩu lao động 87 ngàn người.

- Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp giữ và tăng thị phần ở các thị trường xuất khẩu lao động truyền thống như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Đông; đặc biệt tập trung thực hiện bản ghi nhớ ký ngày 31/12/2013 về đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS. Đồng thời tiếp tục các hoạt động để mở thị trường mới như Ăngôla, Cộng hòa Bêlarút…; đẩy mạnh các hình thức hợp tác đưa lao động có trình độ, tay nghề đi làm việc ở nước ngoài, như: đưa điều dưỡng viên, người lao động đi làm việc tại Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức…

- Tăng cường kiểm tra, thanh tra hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu lao động; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm quy định của nhà nước, đặc biệt là quy định về mức thu phí của người lao động đối với các doanh nghiệp tham gia thị trường Đài Loan; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan kịp thời phát hiện và xử lý những tiêu cực, lừa đảo trong hoạt động xuất khẩu lao động.

- Thực hiện tốt công tác quản lý lao động làm việc ở ngoài nước để bảo vệ quyền lợi người lao động, đồng thời xử lý kịp thời những vi phạm kỷ luật của người lao động làm ảnh hưởng đến thị trường.

- Tuyên truyền, vận động các gia đình có con em đi làm việc ở nước ngoài đã hết hạn hợp đồng trở về nước đúng thời hạn; nghiên cứu chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài về nước đúng hạn; giảm tỷ lệ lao động ở lại bất hợp pháp, đặc biệt tại thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan…

- Cải cách thủ tục hành chính để thực hiện nhanh, giảm phiền hà, nhũng nhiễu người lao động khi làm thủ tục đi làm việc ở nước ngoài; thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động vay vốn để trang trải chi phí học nghề, ngoại ngữ, lệ phí, ký quỹ…, tham gia xuất khẩu lao động.

- Phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động triển khai các hoạt động tuyên truyền, thông tin về xuất khẩu lao động; tổ chức tuyển chọn, giáo dục định hướng, dạy nghề tạo nguồn cho xuất khẩu lao động theo yêu cầu của thị trường.

4. Thực hiện chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; xây dựng quan hệ lao động hài hòa, cải thiện điều kiện lao động

4.1. Vụ Lao động – Tiền lương, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì , phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ở trung ương và địa phương:

- Hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động năm 2012 về tiền lương, quan hệ lao động; xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu và các chính sách lao động, tiền lương phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị định của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng năm 2015.

- Theo dõi, giám sát và tổng hợp báo cáo, đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về tiền lương, quan hệ lao động. Hướng dẫn, kiểm tra giám sát bảo đảm thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với các doanh nghiệp năm 2014.

- Thực hiện tốt chức năng tham mưu, giúp việc để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng tiền lương quốc gia, Ủy ban quan hệ lao động.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục người sử dụng lao động và người lao động về ý thức chấp hành các quy định của pháp luật lao động; thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, lành mạnh; tiếp tục triển khai các hoạt động xây dựng thỏa ước lao động ngành, xây dựng quan hệ lao động hài hòa; nắm bắt và giải quyết kịp thời các tranh chấp lao động, nhằm giảm thiểu các vụ đình công, lãn công bất hợp pháp của người lao động trong các doanh nghiệp.

4.2. Vụ Bảo hiểm xã hội, Cục Việc làm, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ở trung ương và địa phương:

- Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 26/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020; bảo đảm tiến độ xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Nghị định quy định về điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc; triển khai thí điểm bảo hiểm hưu trí bổ sung.

- Tăng cường sự phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội ở các cấp trong việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; quản lý tốt đối tượng đóng và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; thực hiện các giải pháp mở rộng diện tham gia và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ có trọng điểm cho đối tượng tự nguyện tham gia bảo hiểm xã hội.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm, nhất là các hành vi trốn đóng, nợ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; các hành vi tiêu cực, gian lận để hưởng chế độ, trục lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; nghiên cứu, đề xuất ban hành chế tài đủ mạnh để bắt buộc chủ sử dụng phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; nghiên cứu trình Chính phủ ban hành quy định về xử lý tiền nợ bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động hoặc chủ bỏ trốn và hướng giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong các doanh nghiệp này.

- Phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Bảo hiểm xã hội theo Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 09/12/2010 của Chính phủ.

- Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đề xuất xử lý những kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.

4.3. Cục An toàn Lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ở trung ương và địa phương:

- Tiếp tục hoàn thiện các chính sách về công tác an toàn, vệ sinh lao động; hoàn thiện dự thảo Luật an toàn, vệ sinh lao động trình Chính phủ và Quốc hội. Tăng cường quản lý nhà nước về công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động; kiểm định kỹ thuật an toàn. Nâng cao năng lực hoạt động đăng ký, kiểm định, kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hoá có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; thực hiện kiểm tra công tác huấn luyện, kiểm định ở một số bộ, ngành, địa phương; tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và tổ chức hướng dẫn công tác huấn luyện, kiểm định về an toàn lao động.

- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, tập trung vào việc phổ biến các văn bản hướng dẫn công tác an toàn, vệ sinh lao động đã ban hành trong năm 2013; triển khai tổ chức Tuần lễ quốc gia an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ lần thứ 16;

- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014 Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2011-2015; theo dõi, giám sát sử dụng nguồn vốn ngân sách Trung ương bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

- Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động; khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, người lao động tham gia cải thiện điều kiện và môi trường lao động giảm thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

- Tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Theo dõi, tổng hợp, đánh giá tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; xử lý, đề xuất xử lý tai nạn lao động nghiêm trọng trên phạm vi cả nước.

5. Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề

Tổng cục Dạy nghề, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ở Trung ương và địa phương:

- Xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Dạy nghề và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tổ chức thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn. Thực hiện tích cực Chiến lược dạy nghề thời kỳ 2011-2020; các Chương trình, dự án, đề án về dạy nghề đã được phê duyệt.

- Tập trung đầu tư, phát triển các cơ sở dạy nghề theo quy hoạch điều chỉnh, bổ sung được duyệt phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, ngành, vùng, tiểu vùng đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật chất lượng cao cho thị trường lao động trong nước, xuất khẩu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động. Đầu tư phát triển một số trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề có năng lực đào tạo một số nghề đạt chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế. Phát triển các trung tâm dạy nghề để đào tạo nghề ở trình độ sơ cấp, dạy nghề dưới 3 tháng nhằm phổ cập nghề và đào tạo lại nghề cho người lao động, góp phần tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động nhất là lao động nông thôn và dân tộc thiểu số (đối với trung tâm dạy nghề cho lao động nông thôn thực hiện theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Triển khai thực hiện việc hợp nhất Trung tâm dạy nghề, Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm hướng nghiệp cấp huyện.

- Thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy nghề, nhất là dạy nghề cho lao động nông thôn. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên đào tạo nghề, hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người bị thu hồi đất nông nghiệp, hỗ trợ đào tạo để chuyển đổi nghề đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo ở các vùng đặc biệt khó khăn. Hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp; bổ sung các hình thức đào tạo chuyên sâu, đào tạo qua internet.

- Đa dạng hoá các hình thức, phương pháp dạy nghề phù hợp với đối tượng học nghề và yêu cầu sản xuất; nghiên cứu phát triển mô hình đào tạo với sự tham gia của cơ quan tài trợ, kiểm tra chất lượng của nhà nước, các tổ chức dạy nghề, doanh nghiệp và người lao động.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, hướng nghiệp nhằm thay đổi nhận thức của xã hội về học nghề, lập nghiệp.

- Triển khai thực hiện các hoạt động hội nhập quốc tế về dạy nghề theo nội dung Đề án hội nhập quốc tế về giáo dục và dạy nghề đến năm 2020. Tăng cường hợp tác quốc tế về dạy nghề, hợp tác với các nước ASEAN để tiến tới công nhận kỹ năng nghề giữa các nước. Tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp nước ngoài phát triển cơ sở dạy nghề chất lượng cao, hợp tác đào tạo nghề tại Việt Nam.

- Tổ chức Hội thi tay nghề toàn quốc năm 2014 và Hội thi tay nghề ASEAN lần thứ 10 tại Việt Nam.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014: dự án Đổi mới và phát triển dạy nghề, dự án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012-2015). Theo dõi, giám sát sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

6. Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần người có công

Cục Người có công, Vụ Kế hoạch – Tài chính, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương:

- Xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định về điều chỉnh trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công với cách mạng.

- Tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ các chính sách, chế độ ưu đãi người có công.

- Tiếp tục xử lý các trường hợp còn tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công, đặc biệt với đối tượng liệt sỹ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ; người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học.

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, rà soát hồ sơ các đối tượng người có công để bảo đảm chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đến đúng người và đúng chính sách; xử lý nghiêm những trường hợp đã có kết luận sai phạm và trách nhiệm của người gây ra những sai phạm đó.

- Tổ chức tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 27/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam.

- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014 Đề án “Xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin”; phối hợp với Bộ Xây dựng thực hiện đề án hỗ trợ nhà cho người có công còn khó khăn về nhà ở.

- Quy hoạch, sắp xếp và đầu tư phát triển mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình – phục hồi chức năng đáp ứng yêu cầu điều trị, phục hồi sức khoẻ, hoà nhập cộng đồng cho người có công; đầu tư xây dựng, sửa chữa, tôn tạo và nâng cấp các công trình tưởng niệm liệt sỹ đảm bảo ổn định, lâu dài, phát huy tính giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

- Đẩy mạnh các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ, người có công” nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội, cộng đồng cùng nhà nước chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng; đào tạo, bồi dưỡng thế hệ con em người có công tiếp tục phát huy truyền thống, đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

7. Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững

Văn phòng quốc gia về giảm nghèo, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp ở trung ương và địa phương:

- Tổng hợp theo dõi, đánh giá thực hiện chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo 1,7 – 2,0% so với năm 2013, trong đó các huyện nghèo giảm 4%.

- Xây dựng, trình phê duyệt Đề án xây dựng mức sống trung bình.

- Tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 và Quyết định số 1200/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Khung kế hoạch triển khai Nghị quyết số 80/NQ-CP.

- Rà soát tổng thể, điều chỉnh và thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án về giảm nghèo bền vững, nhất là với huyện nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo cao; chính sách đối với hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo. Giảm dần hỗ trợ trực tiếp, tập trung thực hiện hỗ trợ sản xuất thông qua các chính sách hỗ trợ đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, dạy nghề, khuyến nông - lâm - ngư; tăng khả năng tiếp cận và bảo đảm mức sống tối thiểu về dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, thông tin, trợ giúp pháp lý. Rà soát, bổ sung chính sách đặc thù hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn, nhất là về lương thực, phát triển chăn nuôi và trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và khuyến khích người dân vươn lên thoát nghèo.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014: Dự án 1: Chương trình 30a, bao gồm nội dung, nhiệm vụ của Chương trình 30a đang thực hiện và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; Dự án 3: Nhân rộng mô hình giảm nghèo; Dự án 4: Hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát đánh giá thực hiện Chương trình (thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012- 2015). Theo dõi, giám sát sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

- Công bố chính thức kết quả rà soát hộ nghèo năm 2013; tổ chức rà soát hộ nghèo năm 2014 chú ý rà soát, phân loại các nguyên nhân nghèo theo các nhóm hộ để có các chính sách trợ giúp phù hợp, đồng thời phân công, giao nhiệm vụ, kêu gọi sự trợ giúp từ doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị, các tổ chức chính trị – xã hội và cá nhân đối với hộ nghèo; tạo phong trào thi đua làm kinh tế giỏi, thoát nghèo vươn lên khá giả trong các cộng đồng dân cư.

8. Tăng cường hoạt động bảo trợ, trợ giúp xã hội

Cục Bảo trợ Xã hội, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương:

- Tổ chức thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ và của Bộ thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

- Xây dựng, trình phê duyệt Đề án quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội; Đề án cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; Đề án Bảo đảm an sinh xã hội, ổn định đời sống, sản xuất cho người dân di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam.

- Tổ chức thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đã ban hành đối với đối tượng yếu thế.

- Phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, nhân đạo phi Chính phủ, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận để chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng theo tinh thần xã hội hóa với sự hỗ trợ một phần của nhà nước, cộng đồng và đối tượng tự vươn lên, tạo cơ hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội, trước hết là các đối tượng còn khả năng lao động tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu; bình đẳng về cơ hội trong giáo dục, đào tạo, dạy nghề, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, văn hóa thể thao, đảm bảo cho các đối tượng bảo trợ xã hội, người yếu thế, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng.

- Theo dõi sát tình hình thiếu đói giáp hạt, thiệt hại do thiên tai và tình hình khó khăn do giá cả tăng cao để chỉ đạo kịp thời hoạt động cứu trợ tại địa phương và đề xuất các giải pháp khắc phục hậu quả; xây dựng, triển khai thực hiện các mô hình phòng tránh và cứu trợ phù hợp để kịp thời ứng phó và hạn chế các tác động xấu của thiên tai, hướng dẫn người dân chủ động phòng chống, cứu giúp lẫn nhau khi gặp thiên tai.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014: Đề án Phát triển nghề công tác xã hội; Đề án Trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng; Chương trình hành động quốc gia về Người cao tuổi giai đoạn 2012 - 2020; Đề án Trợ giúp Người khuyết tật giai đoạn 2011 – 2020; Đề án Trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013- 2020. Theo dõi, giám sát sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện Luật Người cao tuổi, Luật người khuyết tật và các chính sách trợ giúp xã hội. Tổng hợp, báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các chính sách và các quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội.

9. Tạo môi trường thuận lợi để thực hiện toàn diện quyền trẻ em

9.1. Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương:

- Xây dựng Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi; xây dựng, trình Thủ tướng ban hành Quyết định sửa đổi, bổ sung Quyết định số 37/2010/QĐ-TTg về ban hành tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn.

- Lồng ghép, đưa các nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội các cấp, các ngành, cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu và gắn với nguồn lực nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Trước hết là tập trung xây dựng “xã, phường phù hợp với trẻ em”, để mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc và đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em.

- Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý, tình nguyện viên làm công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em các cấp; từng bước chuyên nghiệp hoá mạng lưới tổ chức và đội ngũ cán bộ công tác xã hội làm việc với trẻ em; mở rộng mạng lưới cộng tác viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cấp thôn bản; thành lập, đưa vào hoạt động một số loại hình dịch vụ bảo vệ trẻ em (Trung tâm công tác xã hội trẻ em, điểm tham vấn cộng đồng, trường học); tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng thực hành cho đội ngũ cán bộ làm việc trong hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em.

- Tăng cường các hoạt động truyền thông, giáo dục, tư vấn về bảo vệ, chăm sóc trẻ em: tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề, các sự kiện truyền thông về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; tổ chức các chiến dịch truyền thông; xây dựng chuyên trang, chuyên mục trên các báo, đài; nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm truyền thông mẫu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; nâng cao năng lực truyền thông về chăm sóc, bảo vệ trẻ em cho lực lượng truyền thông đại chúng.

- Xây dựng, nhân rộng mô hình hiệu quả về bảo vệ, chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng; mô hình thúc đẩy sự tham gia của trẻ em; mô hình phòng chống tai nạn thương tích; mô hình hỗ trợ trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em bị buôn bán; mô hình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em trong nhà trường và cộng đồng; các mô hình thực hiện các quyền của trẻ em về khai sinh, chăm sóc sức khoẻ dinh dưỡng, vui chơi giải trí, văn hoá, thể thao… đảm bảo cho mọi trẻ em (đặc biệt là trẻ em có nguy cơ cao, bị hạn chế phát triển bình thường về thể chất tinh thần, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt) tiếp cận các dịch vụ này thuận lợi, hiệu quả. Ưu tiên hỗ trợ bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em vùng nông thôn nghèo, vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số.

- Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF) trong việc huy động nguồn lực xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án, dự án trợ giúp, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ kỹ thuật, kiến thức và kinh nghiệm cho công tác xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện chính sách, hướng dẫn thực hiện cũng như xây dựng kế hoạch, giám sát, đánh giá thực hiện mục tiêu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014: Chương trình quốc gia về Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011-2020; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; Chương trình phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2011 – 2015. Theo dõi, giám sát sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

9.2. Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương: kiện toàn và phát huy hiệu quả hệ thống Quỹ Bảo trợ trẻ em các cấp; đổi mới hình thức, nội dung vận động, hoạt động của quỹ, vận động các nguồn kinh phí khoảng 600 tỷ đồng (trong đó Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam khoảng 50 tỷ đồng); triển khai các chương trình, dự án nhằm hỗ trợ 1 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong phạm vi toàn quốc.

10. Thực hiện bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ

Vụ Bình đẳng giới, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương:

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về bình đẳng giới; thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về bình đẳng giới mà Việt Nam đã phê chuẩn.

- Lồng ghép các chỉ tiêu, nhiệm vụ về bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội các cấp, các ngành, cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu và gắn với nguồn lực nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu Bình đẳng giới trong Chiến lược quốc gia Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020.

- Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các cấp theo quy định hiện hành và phù hợp với thực tế của từng địa phương, đơn vị, đảm bảo bố trí đủ cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các cấp. Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ từ trung ương đến địa phương, cơ sở.

- Tăng cường công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành trong việc triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới, đặc biệt là các Bộ, ngành chức năng có liên quan tới việc thực thi bình đẳng giới ở 8 lĩnh vực trọng yếu mà Luật đã quy định là: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế và gia đình. Thí điểm xây dựng các mô hình dịch vụ nhằm hỗ trợ cả nam và nữ trong phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới và phòng chống bạo lực gia đình.

- Hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến Luật Bình đẳng giới và các văn bản hướng dẫn thi hành; hình thành, phát triển đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ, đặc biệt là ở cơ sở; phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị – xã hội ở các cấp trong việc phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới. Đề cao vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, nhất là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức phi Chính phủ trong việc tuyên truyền, vận động và giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014 Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015. Theo dõi, giám sát sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

- Tổng hợp báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới.

11. Giảm phát sinh mới tệ nạn xã hội; nâng cao chất lượng cai nghiện phục hồi, quản lý sau cai; phòng chống tệ nạn mại dâm

Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị ở trung ương và địa phương:

- Kiện toàn bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội các cấp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đấu tranh với các vi phạm pháp luật về phòng, chống tệ nạn mại dâm theo quy định của pháp luật hiện hành; tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với các cơ sở kinh doanh, dịch vụ nhạy cảm; xây dựng, phát triển đội hoạt động xã hội tình nguyện cấp xã.

- Triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 theo quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Kế hoạch thống kê người nghiện ma túy theo Quyết định số 2434/QĐ-TTg ngày 13/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ nhằm làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch phòng, chống ma túy… Đổi mới công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cai nghiện phục hồi, quản lý sau cai; từng bước xây dựng hình thành mạng lưới các cơ sở điều trị nghiện có đủ năng lực triển khai điều trị thay thế bằng chất Methadone và các phương pháp điều trị khác đáp ứng nhu cầu đa dạng về dịch vụ điều trị nghiện cho người nghiện ma túy ở các địa phương; tăng cường quản lý, tư vấn, trợ giúp người sau cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phòng chống tái nghiện.

- Triển khai các giải pháp phòng ngừa, giảm phát sinh mới tệ nạn mại dâm dưới mọi hình thức; phòng, chống mua bán người vì mục đích mại dâm, bóc lột tình dục góp phần bảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, danh dự, nhân phẩm của con người, hạnh phúc gia đình, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ sức khỏe nhân dân, dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục nhằm giảm thiểu tác hại của tệ nạn mại dâm đối với đời sống xã hội, xây dựng và phát triển con người Việt Nam.

- Nhân rộng mô hình xã, phường phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh mới tệ nạn ma túy, mại dâm; mô hình dạy nghề, tạo việc làm và quản lý đối tượng sau cai tại cộng đồng, tập trung vào các giải pháp đảm bảo việc làm, thu nhập, tái hoà nhập cộng đồng bền vững cho các đối tượng sau cai; mô hình về phòng ngừa và hỗ trợ trực tiếp cho người bán dâm tại cộng đồng bên cạnh các chương trình hỗ trợ, lồng ghép HIV/AIDS, giảm nghèo… tạo điều kiện cho nhiều phụ nữ bán dâm được học nghề, tìm việc làm, hòa nhập cộng đồng.

- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng về tác hại nhiều mặt của tệ nạn ma túy, mại dâm trong đời sống xã hội để từ đó phát động và thực hiện phong trào toàn dân tham gia phòng, chống tệ nạn xã hội. Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động xây dựng “xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội”; chuyển hóa những xã, phường trọng điểm về tệ nạn ma túy, mại dâm; huy động tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh các cấp, nhà trường… thực hiện đồng bộ các giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, vận động thanh niên tránh xa ma túy, mại dâm.

- Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả kế hoạch năm 2014: Chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011-2015; Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; dự án Nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma tuý, quản lý sau cai nghiện (thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ma tuý giai đoạn 2012-2015). Theo dõi, giám sát sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả thực hiện theo quy định.

- Tổng hợp báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về cai nghiện ma tuý; phòng chống mại dâm; phòng, chống buôn bán người.

12. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra

Thanh tra Bộ, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan ở trung ương và địa phương:

- Xây dựng, trình ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về khiếu nại, tố cáo.

- Triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “nâng cao năng lực thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2020” theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, tập trung vào nội dung: kiện toàn về cơ cấu tổ chức, nhân sự, cơ sở vật chất và các điều kiện đảm bảo công tác thanh tra của ngành.

- Tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, tập trung vào: thanh tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước và thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến lĩnh vực của ngành tại địa phương, cơ sở. Thanh tra vùng; thanh tra chuyên đề về chấp hành pháp luật lao động trong doanh nghiệp, về an toàn vệ sinh lao động, xuất khẩu lao động, bảo hiểm xã hội, xác nhận và hưởng chính sách người có công, công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, các chương trình, dự án… Thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Bộ và trách nhiệm của Thủ trưởng trong việc quản lý và sử dụng tài chính, tài sản, thực hiệc các chương trình, dự án…

- Tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý phù hợp tại cơ sở, hạn chế khiếu nại vượt cấp. Thực hiện lịch tiếp công dân hàng tháng của Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Sở; giải quyết dứt điểm những vụ khiếu kiện phức tạp, kéo dài.

13. Tích cực, chủ động mở rộng hợp tác quốc tế

Vụ Hợp tác Quốc tế chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố và các cơ quan, đơn vị liên quan ở trung ương và địa phương:

- Xây dựng Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; xây dựng và triển khai thực hiện cam kết trong khuôn khổ ILO và các tổ chức khác thuộc hệ thống Liên hp quốc trong lĩnh vực lao động - xã hội giai đoạn 2014 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Đề án thúc đẩy việc hiện thực hoá Tuyên bố của các nhà Lãnh đạo ASEAN trong các kênh chuyên ngành phụ trách, tập trung vào những lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh trong ASEAN.

- Tăng cường thực hiện truyền thông trên các phương tiện về cộng đồng dựa trên việc thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về tuyên truyền, quảng bá ASEAN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; chủ trì tổ chức một số sự kiện quan trọng của ASEAN như Hội nghị đánh giá giữa kỳ việc thực hiện Chương trình làm việc của Bộ trưởng Lao động ASEAN giai đoạn 2011-2015; Hội thảo khu vực về Việc làm bền vững lần thứ 2 trong ASEAN; phối hợp tổ chức Hội thi Tay nghề ASEAN 2014…

- Triển khai tốt các Thỏa thuận, Hiệp định song phương đã ký kết; tiếp tục đàm phán 09 Thỏa thuận hợp tác để có thể ký kết đầu năm 2014. Chủ động tham gia các Ủy ban hỗn hợp, Ủy ban liên Chính phủ: Việt Nam – Lào, Việt Nam – Nga, Việt Nam – Belarut… Tăng cường đối thoại chính sách với các đối tác song phương về lao động, việc làm, an sinh xã hội. Tăng cường chủ động khai thác sự hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật tài chính cho việc xây dựng các chiến lược, các ưu tiên lớn của ngành trong giai đoạn 2015- 2020…

- Tiến hành đàm phán và ký kết một số thỏa thuận với các tổ chức phi chính phủ. Mở rộng các lĩnh vực và đối tác hợp tác; tiếp tục triển khai các hoạt động đã được thỏa thuận và đã có kế hoạch; tổ chức các hội thảo về quan hệ đối tác, vận động tài trợ nhằm tranh thủ tối đa khả năng huy động sự hỗ trợ của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài cả về tài chính, kỹ thuật để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ đối với các lĩnh vực: xóa đói giảm nghèo, phát triển nghề công tác xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, hỗ trợ cho đối tượng của ngành theo hướng góp phần xây dựng một hệ thống an sinh xã hội bền vững.

14. Cải cách hành chính; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; phát triển công tác thông tin, thống kê

Các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan ở trung ương và địa phương:

- Tiếp tục thực hiện nội dung cải cách hành chính, đặc biệt tập trung vào cải cách thủ tục hành chính, cải cách tài chính công theo chỉ đạo của Chính phủ. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách về lao động, người có công và xã hội phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt tập trung vào cải cách thủ tục hành chính; triển khai có hiệu quả đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư. Thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính, lồng ghép việc kiểm soát thủ tục hành chính ngay từ quá trình soạn thảo, thẩm định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

- Kiểm tra, đôn đốc các đơn vị, địa phương thực hiện Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật phòng, chống tham nhũng theo Chương trình hành động của Bộ. Thực hiện nghiêm quy định về kê khai tài sản; chuyển đổi vị trí công tác đối các vị trí công tác phải thực hiện định kỳ chuyển đổi trong các lĩnh vực của ngành theo quy định…

- Rà soát cơ chế, quy trình, thực hiện công khai, minh bạch trong phân bổ, sử dụng, quyết toán các nguồn kinh phí, các dự án đầu tư, các dự án viện trợ; công khai đối tượng hưởng chính sách, công khai việc tuyển chọn lao động xuất khẩu, chống tiêu cực, vi phạm; có cơ chế kiểm tra chéo lẫn nhau trong cơ quan, cơ chế giám sát của nhân dân để ngăn chặn và xử lý kịp thời những trường hợp cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ để nhũng nhiễu, phiền hà, gây bất bình trong nhân dân.

- Tổ chức hệ thống thông tin thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương nhằm thu thập, cập nhật và xử lý thông tin một cách kịp thời; triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu về các lĩnh vực quản lý của Bộ, ngành, tiến tới thực hiện quản lý đầy đủ các chỉ tiêu thông tin, thống kê của từng đối tượng; đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại nhằm cung cấp cho các tổ chức xã hội và cộng đồng trong nước, ngoài nước góp phần minh bạch hóa thông tin; từng bước cung cấp trực tuyến các dịch vụ hành chính công về các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội. Kiện toàn tổ chức nhân sự thực hiện nhiệm vụ thông tin, thống kê và ứng dụng công nghệ thông tin theo hướng thống nhất đầu mối của Bộ, ngành nhằm đảm bảo công tác thông tin, thống kê và ứng dụng công nghệ thông tin đi đúng định hướng, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh chồng chéo.

15. Quy hoạch, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng các lĩnh vực của ngành, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp

15.1. Các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan ở trung ương và địa phương:

Quy hoạch, đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội của ngành, các cơ sở sự nghiệp, trong đó có một số cơ sở sự nghiệp dạy nghề, giới thiệu việc làm tiếp cận với trình độ khu vực và quốc tế; cơ sở điều dưỡng người có công; cơ sở nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội không có khả năng hòa nhập cộng đồng.

Tổ chức thực hiện Chương trình hành động của Bộ (Quyết định số 1619/QĐ-LĐTBXH ngày 12/11/2012) thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hoá một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”. Xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả các loại hình đơn vị sự nghiệp tương xứng với ngân sách được giao.

Tăng cường tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên các cơ sở sự nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Triển khai thực hiện phương án sắp xếp, tổ chức lại 3 doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ theo lộ trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

15.2. Vụ Kế hoạch – Tài chính hướng dẫn các đơn vị thuộc Bộ nghiên cứu, xây dựng quy hoạch phát triển lĩnh vực, quy hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội, các cơ sở sự nghiệp của ngành theo quy định.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Căn cứ vào Chương trình công tác này và các Nghị quyết, Quyết định của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Thủ trưởng các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao:

1. Khẩn trương xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện ngay trong tháng 2 năm 2014 Chương trình công tác cụ thể của đơn vị, địa phương; trong đó, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian và phân công từng bộ phận, cá nhân chủ trì để triển khai thực hiện và gửi về Bộ (Vụ Kế hoạch – Tài chính, Văn phòng Bộ, Vụ Pháp chế) trước ngày 01/3/2014 để theo dõi, giám sát.

2. Tập trung chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt, hiệu quả các giải pháp trong chương trình; thường xuyên kiểm tra, giám sát tiến độ và kết quả thực hiện chương trình công tác đã đề ra; tổ chức giao ban hàng tháng để kiểm điểm tình hình thực hiện chương trình, chủ động xử lý hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền giải pháp xử lý phù hợp, kịp thời những vấn đề mới phát sinh.

Tổng hợp, đánh giá, báo cáo tình hình thực hiện chương trình hàng tháng, quý gửi Văn phòng Bộ, Vụ Kế hoạch – Tài chính trước ngày 20 hàng tháng và tháng cuối quý.

3. Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể các cấp, các Ban chỉ đạo vùng; huy động sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về lao động, người có công và xã hội.

4. Chánh Văn phòng Bộ chủ trì, phối hợp với Vụ trưởng Vụ Kế hoạch – Tài chính theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chương trình công tác này, định kỳ báo cáo và đề xuất với Bộ trưởng về các biện pháp cần thiết bảo đảm chương trình được thực hiện đồng bộ, hiệu quả./.

 

Quyết định 80/QĐ-LĐTBXH năm 2014 về Chương trình công tác lĩnh vực lao động, người có công và xã hội do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành

Thông tin pháp luật, luật sư, công ty luật E-luat

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 43/TB-VPCP

Hà Nội, ngày 25 tháng 01 năm 2014

 

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VŨ VĂN NINH TẠI BUỔI LÀM VIỆC VỚI LÃNH ĐẠO TỈNH BẾN TRE

Ngày 17 tháng 01 năm 2014, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh đã thăm và làm việc với lãnh đo tỉnh Bến Tre; khảo sát thực tế tình hình thực hiện Chương tnh xây dựng nông thôn mới và Chương trình giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh. Cùng đi có đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ quan: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và Văn phòng Chính phủ. Tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bến Tre, sau khi nghe Lãnh đạo Tỉnh báo cáo kết quả kinh tế – xã hội năm 2013, nhiệm vụ năm 2014; tình hình thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững và một skiến nghị của Tỉnh; ý kiến của đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ quan, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh đã kết luận như sau:

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đánh giá cao và biểu dương sự cố gắng, nỗ lực và những thành tích đã đạt được trong năm 2013 của Đảng bộ, chính quyền, các đoàn thvà đồng bào tỉnh Bến Tre: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,72%, giá trị sản xuất ước tăng 20,1 % so với năm 2012, tng kim ngạch xuất nhập khẩu đt mức trên 500 triệu USD; thu ngân sách nhà nước đạt 105,2% dự toán, tăng 9,53% so với năm 2012; tỷ lệ hộ nghèo còn 9,0%, giảm 1,65% so với năm 2012.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã huy động được cả hệ thng chính trị vào cuộc, thực sự phát huy quyn dân chủ và đưc nhân dân hưởng ứng tích cực, bước đầu đã tạo những điểm nhấn quan trọng, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần ca nhân dân.Trong các năm 2011-2013 đã huy động được 7.150 tỷ đồng (trong đó đóng góp của doanh nghiệp và nhân dân 2.074 tỷ đồng), đầu tư cho hạ tầng thiết yếu nông thôn và hỗ trợ sản xuất; bước đầu đã xuất hiện các mô hình liên kết sản xuất gn với giảm nghèo. Các chính sách thuộc Chương trình giảm nghèo được trin khai tích cực, phát huy ý chí vượt khó vươn lên của các hộ gia đình; đã xây dựng 42 mô hình giảm nghèo tại 39 xã của 9 huyện với 411 hộ nghèo tham gia, trong đó có 111 hộ vươn lên thoát nghèo.

Tuy nhiên, Bến Tre vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; hạ tầng kinh tế, xã hội còn nhiu bất cập; các mô hình sản xuất hàng hóa quy mô còn nhỏ; thu hút đầu tư còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

II. NHIỆM VỤ TRONG THỜI GIAN TỚI

Về cơ bản đồng ý với mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tếxã hội năm 2014 mà Tỉnh đã đề ra, nhấn mạnh thêm một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

1. Tiếp tục bám sát phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tếxã hội năm 2014 và đến năm 2015 của cả nước mà Đảng, Quốc hội đã đề ra; tập trung nguồn lực, với quyết tâm cao để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết s 01/NQ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2014.

2. Qua 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ, cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, gn với tái cơ cu ngành nông nghiệp, ứng dụng khoa học kỹ thuật theo hướng chất lượng cao và phát triển bền vững; lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện từng huyện, xã để phát triển, nhằm đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả.

3. Trên cơ sở Chương trình xây dựng nông thôn mới gắn vi Chương trình giảm nghèo đang được Chính phủ bổ sung, hoàn thiện theo hướng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo và mới thoát nghèo, Tỉnh cần triển khai tích cực, lồng ghép các chương trình; trong đó tập trung chỉ đạo rà soát quy hoạch, nhất là quy hoạch sản xuất, lựa chọn sản phẩm gắn với thị trường.

Tiếp tục vận động cán bộ, nhân dân hiểu rõ đây là chương trình của dân, do dân làm là chính, được dân giám sát, Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ; cn hết sức chú ý đào tạo đội ngũ cán bộ cho công tác này.

Trong thực hiện, cần kiên trì, không chạy theo thành tích, kết hp tốt giữa triển khai có trọng điểm và theo diện rộng, lựa chọn các tiêu chí quan trọng để làm trước, chú ý nhân rộng các mô hình, làm cho tất cả các xã đều nâng được tiêu chí nông thôn mới.

Trong triển khai Chương trình giảm nghèo, cần có đề xuất cụ thể với từng chính sách, đảm bảo phù hợp với thực tế đời sng của ngưi dân từng địa bàn.

4. Để chuẩn bị cho đồng bào vui Tết Giáp Ngọ, Tỉnh cần làm tốt công tác quản lý thị trường, giá cả, đảm bảo cung cầu hàng hóa.

5. Đẩy mạnh cải cách hành chính, công tác thanh tra, kiểm tra; phòng, chng tham nhũng, lãng phí; phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội; đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phấn đấu giảm tai nạn giao thông.

III. V MỘT SỐ Đ NGHỊ CỦA TỈNH

1. Về hỗ trợ vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ bổ sung giai đoạn 2014-2016 cho tnh Bến Tre và nâng hạn mức phân bổ vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cân đối nguồn vốn trái phiếu Chính phủ bổ sung giai đoạn 2014-2016, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Về ban hành quy trình xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới để địa phương triển khai thực hiện: giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương hoàn chỉnh lại dự thảo Quyết đnh, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 01 năm 2014.

3. Về xây dựng cơ cấu tổ chức Văn phòng điều phối chương trình xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh, phân bổ biên chế hành chính, chính sách đặc thù đối với cán bộ, công chức chuyên trách thực hiện công tác xây dựng nông thôn mới các cấp: giao Bộ Nội vụ khẩn trương thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ tại văn bn số 379/TB-VPCP ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Văn phòng Chính phủ.

4. Về chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cho hộ mới thoát nghèo, không tái nghèo; hỗ trợ 100% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo: giao Tỉnh thực hiện theo Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 08 tháng 5 năm 2013 và Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ.

5. Về Chính sách hỗ trợ miễn, giảm học phí đối với sinh viên đang theo học tại các cơ sở dạy nghề, các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học: Tnh thực hiện theo Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 sửa đi, bsung Nghị định số 49/2010 ngày 14 tháng 5 năm 2010.

6. Về Chính sách ưu đãi hoặc bố trí cộng tác viên hỗ trợ nhiệm vụ cho cán bộ Lao động – Thương binh và Xã hội: Tỉnh cân đối trong nguồn biên chế hiện có.

7. Về phê duyệt danh mục tài trợ đợt 2, tài khóa năm 2013 Dự án JICA3 (hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre): Dự án đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa vào danh mục bố trí nguồn vốn đối ứng trái phiếu Chính phủ năm 2014, giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phi hợp với các Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương hoàn thiện các thtục theo quy định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

8. Về vốn đầu tư giai đoạn 2014-2015 chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển: Tỉnh chủ động sử dụng vốn đã được bố trí, cân đối ngân sách địa phương và huy động các nguồn hợp pháp khác đthực hiện; giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường xem xét, đề xuất hỗ trợ địa phương từ nguồn vốn ODA, các nguồn tài trợ quốc tế và các nguồn vốn hợp pháp khác.

9. Về cơ chế vay vốn ngân hàng và kéo dài thời gian thu phí hoàn vốn cho chủ đầu tư để đẩy nhanh tiến độ xây dựng Dự án cầu Cổ Chiên: giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp các Bộ: Tài chính, Giao thông vận tải, Ngân hàng nhà nước Việt Nam xem xét, đề xuất cơ chế phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn cho tỉnh.

Văn phòng Chính phủ xin thông báo để Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre và các Bộ, cơ quan liên quan biết, thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Giao thông vận tải, Nội vụ, Nông nghiệp và PTNT, Tài nguyên và Môi trường, Lao động – Thương binh và Xã hội, Ngân hàng nhà nước Việt Nam;
- Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ;
- Tỉnh ủy, HĐND, UBND tnh Bến Tre;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, TGĐ cổng TTĐT; các Vụ: TH, KTTH, KTN, KGVX, NC, TCCV;
- Lưu: VT, V.III (3b).

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM

Phạm Viết Muôn

 

Thông báo 43/TB-VPCP năm 2014 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bến Tre do Văn phòng Chính phủ ban hành

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 705/VPCP-KTN
V/v xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật về quy hoạch, kiến trúc khu vực các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ha Bà Trưng, Tp Hà Nội

Hà Nội, ngày 27 tháng 01 năm 2014

 

Kính gửi:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường;
– Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tại (công văn số 10127/UBND-QHXDGT ngày 31 tháng 12 năm 2013) về việc xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật về quy hoạch, kiến trúc khu vực các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội; Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có ý kiến như sau:

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm có ý kiến trả lời công văn số 8170/UBND-QHXDGT ngày 31 tháng 10 năm 2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật về quy hoạch kiến trúc khu vực các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa và Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (theo Khoản 3, Điều 10, Luật Thủ đô).

Văn bản đề nghị gửi về Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Văn phòng Chính phủ trước ngày 15 tháng 02 năm 2014 để báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Văn phòng Chính phủ thông báo để các cơ quan biết, thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
– Thủ tướng CP, PTTg Hoàng Trung Hải;
– Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
– VPCP: BTCN, các PCN: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Cao Lục; TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ: TH, PL, V.III;
– Lưu: VT, KTN (3b) Nghĩa (26)

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM

Nguyễn Hữu Vũ

 

Công văn 705/VPCP-KTN năm 2014 xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật về quy hoạch, kiến trúc khu vực các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ha Bà Trưng, thành phố Hà Nội do Văn phòng Chính phủ ban hành

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 585/VPCP-KTTH
V/v Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam giai đoạn 2014-2020.

Hà Nội, ngày 24 tháng 01 năm 2014

 

Kính gửi: Bộ Công Thương

Xét đề nghị của Bộ Công Thương tại Tờ trình số 11475/TTr-BCT ngày 12 tháng 12 năm 2013 về Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam giai đoạn 2014 – 2020 (Đề án); ý kiến của các Bộ, cơ quan; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (công văn số 4070/MTTW-BCĐTWCVĐ ngày 21 tháng 11 năm 2013); Kế hoạch và Đầu tư (công văn số 9405/BKHĐT-KTDV ngày 21 tháng 11 năm 2013); Thông tin và Truyền thông (công văn số 3452/BTTTT-PTTH&TTĐT ngày 21 tháng 11 năm 2013), Tài chính (công văn số 17310/BTC-HCSN ngày 16 tháng 12 năm 2013), Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải giao Bộ Công Thương nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của Bộ Tài chính tại công văn nêu trên, trong đó bổ sung, làm rõ một số nội dung sau:

1. Điều chỉnh, bổ sung mục tiêu cụ thể đối với các nhiệm vụ của Đề án bảo đảm thống nhất theo từng giai đoạn, trong đó lưu ý đến mục tiêu phát triển thị trường đối với vùng sâu, vùng xa.

2. Rà soát các Chương trình, giải pháp thực hiện Đề án nhất là giải pháp về cơ chế, chính sách; có giải pháp lồng ghép các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án đã ban hành trong lĩnh vực phát triển thương mại vào việc thực hiện các nhiệm vụ của Đề án bảo đảm mục tiêu đã đề ra. Cụ thể hóa nhóm nhiệm vụ và giải pháp về nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường và bảo vệ người tiêu dùng.

3. Bổ sung căn cứ tính toán kinh phí thực hiện Đề án; làm rõ cơ cấu vốn đối với nguồn Ngân sách Nhà nước.

4. Chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Đề án, định kỳ 6 tháng, hàng năm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện Đề án này; có sơ kết, tổng kết, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ trong trường hợp cần thiết.

5. Hoàn thiện dự thảo Quyết định phê duyệt Đề án theo đúng quy định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Văn phòng Chính phủ xin thông báo để Bộ Công Thương biết, thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
– Thủ tướng, PTTg Hoàng Trung Hải;
– VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg; các Vụ: TH, KTN, TKBT, KGVX, TGĐ Cổng TTĐT;
– Lưu: VT, KTTH (3).

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM

Nguyễn Văn Tùng

 

Công văn 585/VPCP-KTTH năm 2014 Đề án Phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam giai đoạn 2014-2020 do Văn phòng Chính phủ ban hành

BỘ TÀI CHÍNH
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 1207/BTC-CST
V/v thực hiện cơ chế, chính sách áp dụng đối với khu kinh tế cửa khẩu

Hà Nội, ngày 23 tháng 01 năm 2014

 

Kính gửi: Ủy ban nhân dân các tỉnh có khu kinh tế cửa khẩu

Bộ Tài chính nhận được công văn số 164/UBND-TM ngày 16/01/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị, công văn số 07/2014/BC-HDNLB ngày 15/01/2014 của Hội doanh nghiệp Khu KTTM đặc biệt Lao Bảo và công văn số 724/TCHQ-GSQL ngày 20/1/2014 của Tổng cục Hải quan kiến nghị về việc giải quyết vướng mắc khi thực hiện Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK). Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

- Ngày 26/11/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg quy định cơ chế, chính sách tài chính đối với KKTCK, thay thế cho Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 93/2009/QĐ-TTg, với hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/01/2014.

- Ngày 06/01/2014 Bộ Tài chính có công văn số 198/BTC-CST gửi xin ý kiến một số Bộ liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh có KKTCK về dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg nêu trên.

- Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 9, Điều 81 và Điều 83 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg nêu trên, Bộ Tài chính đề nghị:

1. Đối với những nội dung về cơ chế, chính sách tài chính đối với KKTCK đã được quy định rõ tại Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg thì thực hiện từ ngày 15/01/2014.

2. Đối với những nội dung giao Bộ Tài chính hướng dẫn thì thực hiện từ ngày Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành.

3. Trong thời gian chưa có Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg thì thực hiện theo hướng dẫn tại các văn bản hiện hành mà nội dung hướng dẫn không trái với quy định tại Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg.

Theo đó, việc thực hiện một số nội dung thuộc thẩm quyền Bộ Tài chính được giao tại Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg như sau:

- Về Danh mục hàng hóa không thực hiện thủ tục hải quan và danh mục hàng hóa kiểm tra trước khi hoàn thuế giá trị gia tăng nêu tại Điều 10 Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư số 116/2010/TT-BTC ngày 04/8/2010 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 137/2009/TT-BTC ngày 03/7/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số Điều của Quyết định số 33/2009/QĐ-TTg ngày 02/03/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách tài chính đối với khu kinh tế cửa khẩu (riêng mặt hàng xe máy tiếp tục thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 1487/VPCP-KTTH ngày 14/3/2011 của Văn phòng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính tại công văn số 5694/BTC-CST ngày 04/5/2011) cho đến khi Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành.

- Về Danh mục mặt hàng không bán miễn thuế cho khách thăm quan du lịch khu phi thuế quan bao gồm hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, hàng hóa quản lý theo hạn ngạch thuế quan nêu tại điểm c khoản 5 Điều 20 Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg thực hiện từ ngày 15/01/2014 và được căn cứ theo các mặt hàng thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ngày 14/11/2008 và các mặt hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan quy định tại Thông tư số 111/2012/TT-BTC ngày 04/7/2012 của Bộ Tài chính ban hành danh mục hàng hóa và thuế suất thuế nhập khẩu để áp dụng hạn ngạch thuế quan.

- Về Danh mục mặt hàng chịu thuế ngay khi nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu giao Bộ Tài chính hướng dẫn nêu tại điểm c khoản 5 Điều 20 Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg: Thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành cho đến khi Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành (không áp dụng theo dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 72/2013/QĐ-TTg trong thời gian chưa có hiệu lực thi hành).

Bộ Tài chính xin thông báo để Ủy ban nhân dân các tỉnh có KKTCK được biết và chỉ đạo các đơn vị liên quan thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
– Cục Hải quan các tỉnh có KKTCK;
– Hội doanh nghiệp Khu KTTM đặc biệt Lao Bảo (thay trả lời);
– Vụ Pháp chế;
– Tổng cục Hải quan;
– Lưu: VT, CST (PXNK).

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG

Vũ Thị Mai

 

Công văn 1207/BTC-CST năm 2014 thực hiện cơ chế, chính sách áp dụng đối với khu kinh tế cửa khẩu do Bộ Tài chính ban hành

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 28/TB-VPCP

Hà Nội, ngày 21 tháng 01 năm 2014

 

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG HOÀNG TRUNG HẢI – TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG – TƯ

Ngày 10 tháng 01 năm 2014, tại Văn phòng Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải – Trưởng Ban chỉ đạo về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) đã chủ trì phiên họp Ban Chỉ đạo. Tham dự cuộc họp có đại diện các Bộ, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo. Sau khi nghe Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo và ý kiến phát biểu của các đại biểu dự họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải – Trưởng Ban Chỉ đạo đã kết luận như sau:

Để đưa chủ trương thực hiện tái đầu tư công sớm đi vào thực tiễn, việc hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư PPP cần khẩn trương thực hiện. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã rất tích cực làm đầu mối tổng hợp các đề xuất của các Bộ, ngành và địa phương để hoàn thiện Nghị định về đầu tư PPP. Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục tiếp thu các ý kiến đóng góp, trực tiếp làm việc với các Bộ đã có kinh nghiệm triển khai các dự án BOT hoặc có nhiều dự án tiềm năng (như Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Y tế, Bộ Giao thông vận tải); đồng thời, gửi dự thảo Nghị định để lấy thêm ý kiến của các tổ chức quốc tế, một số công ty tư vấn và nhà đầu tư PPP quốc tế tại Việt Nam.

1. Về một số nội dung của dự thảo Nghị định.

a) Về cách tiếp cận soạn thảo Nghị định:

Đồng ý cách tiếp cận soạn thảo Nghị định theo hướng quy định khung. Trên cơ sở Nghị định, các Bộ đề xuất cụ thể chính sách đặc thù của từng ngành, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để phối hợp ban hành Thông tư hướng dẫn riêng (nếu có).

b) Lĩnh vực đầu tư theo hình thức PPP:

Đồng ý mở rộng lĩnh vực đầu tư. Tuy nhiên, chỉ cho phép thực hiện trong các lĩnh vực đã xác định được khả năng triển khai. Trong quá trình thực hiện có thể sửa đổi, bổ sung lĩnh vực nếu cần thiết.

Yêu cầu các Bộ, địa phương khẩn trương rà soát, đánh giá tình hình thực hiện đầu tư thuộc lĩnh vực quản lý trong thời gian qua, từ trung ương đến địa phương; từ đó xác định rõ lĩnh vực tiềm năng có thể đầu tư theo hình thức PPP, lập danh mục dự án gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trong tháng 02 năm 2014 để Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 3 năm 2014.

c) Doanh nghiệp nhà nước tham gia thực hiện dự án PPP:

Đồng ý không hạn chế Doanh nghiệp nhà nước tham gia các dự án PPP. Việc đầu tư của Doanh nghiệp nhà nước phải tập trung vào nhiệm vụ chính, đúng ngành nghề kinh doanh chính, được thẩm định kỹ năng lực khi tham gia và được kiểm soát theo quy định của pháp luật. Nguồn vốn tham gia dự án PPP của doanh nghiệp nhà nước không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc các quỹ của nhà nước.

d) Có trách nhiệm lập, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi:

Có thể quy định linh hoạt việc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Nhà đầu tư lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, tuy nhiên Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm thẩm định và phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi.

đ) Phần tham gia của nhà nước:

Đồng ý phương án không xác định cụ thể tỷ lệ phần tham gia của nhà nước trong dự án PPP. Phần tham gia của nhà nước được xác định trên cơ sở phương án tài chính cụ thể của dự án.

e) Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư:

Đồng ý tiếp tục duy trì thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu rút gọn một đầu mối cấp Giấy chứng nhận đầu tư và đơn giản hóa tối đa hồ sơ, thủ tục để rút ngắn thời gian.

g) Cơ chế đảm bảo và hỗ trợ đầu tư:

- Về đảm bảo cân đối ngoại tệ: Nhà nước chỉ bảo đảm cân đối ngoại tệ cho Nhà đầu tư, không bảo lãnh tỷ lệ ngoại tệ theo nghĩa bảo lãnh cả biến động tỷ giá.

- Về bảo lãnh doanh thu: việc Nhà nước bảo lãnh doanh thu dự án chỉ xem xét trong một số trường hợp cụ thể, trên cơ sở phương án tài chính của dự án.

h) Đào tạo, tăng cường năng lực về PPP:

Yêu cầu các Bộ, ngành và địa phương nghiên cứu, khẩn trương lập bộ phận chuyên trách về PPP. Căn cứ danh sách nhân sự thực hiện PPP của các Bộ, ngành và địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, đề xuất phương án đào tạo và tăng cường năng lực về PPP.

2. Về các kiến nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

- Đồng ý việc mua ô tô từ nguồn viện trợ không hoàn lại của AFD (trong khuôn khổ dự án P3SP) để phục vụ cho hoạt động của Ban Quản lý dự án P3SP.

- Dự án "Ứng dụng thương mại điện tử trong mua sắm chính phủ": Đồng ý thực hiện việc lựa chọn nhà đầu tư thông qua hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước và bố trí nguồn ngân sách nhà nước cho hoạt động quản lý dự án, giám sát hợp đồng trong suốt vòng đời dự án.

3. Về một số dự án khác:

- Dự án Bệnh viện Xây dựng mới: Bộ Xây dựng nghiên cứu các hình thức đầu tư khác (như liên doanh, liên kết với các nhà đầu tư tư nhân…) theo quy định hiện hành để tiếp tục triển khai Dự án, trình Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.

- Dự án "Cung cấp các dịch vụ hậu cần bệnh viện": Bộ Y tế và các cơ quan liên quan thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 8670/VPCP-QHQT ngày 16 tháng 10 năm 2013.

Văn phòng Chính phủ xin thông báo để Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan biết, thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
– VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ: KTTH, V.III, KGVX, QHQT, TKBT, PL, TH;
– Lưu: VT, KTN (3). Ha

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM

Nguyễn Hữu Vũ

 

Thông báo 28/TB-VPCP năm 2014 kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải – Trưởng Ban chỉ đạo về đầu tư theo hình thức đối tác công – tư do Văn phòng Chính phủ ban hành

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
CỤC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 138/QLCL-CL1

Hà Nội, ngày 23 tháng 01 năm 2014

 

Kính gửi:

- Đại sứ quán Việt Nam tại Liên bang Nga
– Thương vụ Việt Nam tại Liên bang Nga

 

Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tôi xin gửi tới Đại sứ quán và Thương vụ Việt Nam tại Liên bang Nga lời chúc nhân dịp năm mới 2014 và trình bày một số nội dung như sau:

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và website của Cục Kiểm dịch động thực vật Liên Bang Nga (VPSS), chúng tôi được biết ngày 17/01/2014, VPSS đã có văn bản số ФC-HB-8/668 thông báo đến các Cơ quan kiểm soát cửa khẩu của VPSS về việc đình chỉ 05 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản đã được Đoàn VPSS thanh tra tháng 12/2013 và đình chỉ nhập khẩu sản phẩm cá tra vào LB Nga của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam kể từ ngày 31/01/2014 với lý do "liên quan đến tính chất nghiêm trọng của những vi phạm trong hệ thống của Việt Nam về đảm bảo an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi sản xuất từ nuôi trồng đến xuất khẩu bị phát hiện trong quá trình thanh tra". Mặc dù ngày 10/12/2013, NAFIQAD đã có công thư số 2325/QLCL-CL1 gửi VPSS trao đổi một số vấn đề bất cập, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và hướng dẫn của Ủy ban Codex đối với Đoàn thanh tra VPSS tại Việt Nam trong tháng 12/2013 và đề nghị VPSS sớm gửi cho NAFIQAD dự thảo báo cáo kết quả chuyến thanh tra để NAFIQAD có ý kiến góp ý trước khi thông báo chính thức. Tuy nhiên, đến nay NAFIQAD vẫn chưa nhận được bất cứ văn bản chính thức nào của VPSS về kết quả chuyến thanh tra.

Để có căn cứ khắc phục các tồn tại liên quan hệ thống kiểm soát ATTP thủy sản xuất khẩu của Việt Nam; đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp khắc phục sai lỗi và thực hiện đúng quy định của Liên minh Hải quan, NAFIQAD đã có công thư số 139/QLCL-CL1 ngày 23/01/2014 gửi VPSS (chi tiết tại văn bản gửi kèm). NAFIQAD trân trọng đề nghị Đại sứ quán, Thương vụ Việt Nam tại LB Nga liên hệ, làm việc trực tiếp với VPSS để đề nghị Bạn sớm có ý kiến về các nội dung NAFIQAD đề nghị tại công thư nêu trên.

Rất mong nhận được sự hỗ trợ của Đại sứ quán, Thương vụ.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
– Bộ trưởng (để b/c);
– Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuân Thu (để b/c);
– Cục trưởng (để b/c);
– Vụ Châu Âu – Bộ Công Thương;
– Vụ HTQT;
– Lưu: VT, KH-TH, CL1.
– VASEP.

PHÓ CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ CL NLTS

Trần Bích Nga

 

Công văn 138/QLCL-CL1 năm 2014 gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Nga do Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản ban hành

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 139/QLCL-CL1

Hà Nội, ngày 23 tháng 01 năm 2014

 

Kính gửi:

Ông DANKVERT Sergrey Alexeyevich Thủ trưởng
Cơ quan Kiểm dịch động thực vật (VPSS) Liên bang Nga

 

Thay mặt Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tôi xin gửi tới Ông lời chào trân trọng và trình bày như sau:

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và website của Cục Kiểm dịch động thực vật Liên Bang Nga (VPSS), chúng tôi được biết ngày 17/01/2014, VPSS đã có văn bản số ФC-HB-8/668 thông báo đến các Cơ quan kiểm soát cửa khẩu của VPSS về việc đình chỉ 05 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản đã được Đoàn VPSS thanh tra tháng 11/2013 và đình chỉ nhập khẩu vào LB Nga sản phẩm cá tra từ tất cả doanh nghiệp Việt Nam kể từ ngày 31/01/2014 với lý do "liên quan đến tính chất nghiêm trọng của những vi phạm trong hệ thống của Việt Nam về đảm bảo an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi sản xuất từ nuôi trồng đến xuất khẩu được phát hiện trong quá trình thanh tra". Về vấn đề này, NAFIQAD có ý kiến như sau:

Chúng tôi hoàn toàn bất ngờ trước thông tin nói trên do không nhận được bất cứ văn bản thông báo chính thức nào từ phía VPSS. Ngay sau chuyến thanh tra của VPSS tại Việt Nam, ngày 10/12/2013, NAFIQAD đã có công thư số 2325/QLCL-CL1 gửi VPSS trao đổi một số vấn đề bất cập, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và hướng dẫn của Ủy ban Codex đối với Đoàn thanh tra VPSS tại Việt Nam trong tháng 12/2013. Ngoài ra, căn cứ Biên bản Hội đàm giữa NAFIQAD và VPSS tại Mátxcơva ngày 16/10/2013 và nội dung đã thống nhất tại cuộc họp kết thúc thanh tra giữa NAFIQAD với Đoàn thanh tra, NAFIQAD đã đề nghị VPSS sớm gửi cho NAFIQAD dự thảo báo cáo kết quả chuyến thanh tra để NAFIQAD có ý kiến góp ý trước khi VPSS thông báo chính thức. Tuy nhiên, đến nay NAFIQAD vẫn chưa nhận được bất cứ văn bản nào của VPSS về kết quả chuyến thanh tra nêu trên. Theo chúng tôi, việc VPSS đơn phương đình chỉ 05 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản được thanh tra và đình chỉ nhập khẩu sản phẩm cá tra vào LB Nga của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam kể từ ngày 31/01/2014 khi chưa có thông báo chính thức về kết quả thanh tra là chưa phù hợp với nội dung Biên bản hội đàm giữa NAFIQAD và VPSS ngày 16/10/2013 cũng như thông lệ quốc tế.

Ngoài ra, theo chúng tôi, việc thông báo quyết định đình chỉ nói trên của VPSS cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế và Tiêu chuẩn Codex số CAC/GL 26-1997 (phiên bản 5) về hướng dẫn cho việc thiết lập, vận hành, đánh giá và công nhận hệ thống kiểm tra và chứng nhận xuất nhập khẩu thực phẩm. Theo đó, để tránh gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu thực phẩm của các doanh nghiệp, Cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu có trách nhiệm thông báo kết quả đánh giá chính thức đến Cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu trước khi cung cấp thông tin đến các cơ quan thông tấn, báo chí.

Để khắc phục các tồn tại liên quan hệ thống kiểm soát ATTP thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời có căn cứ hướng dẫn các doanh nghiệp khắc phục các điểm chưa phù hợp và thực hiện đúng quy định của Liên minh Hải quan, tiếp theo công thư số 2325/QLCL-CL1 ngày 10/12/2013, một lần nữa, NAFIQAD trân trọng đề nghị VPSS có văn bản thông báo kết quả đánh giá của Đoàn thanh tra hệ thống kiểm soát của Việt Nam, giải thích rõ "những vi phạm nghiêm trọng trong hệ thống của Việt Nam được phát triển hiện trong quá trình thanh tra"; đồng thời cung cấp kết quả thanh tra chi tiết tại từng doanh nghiệp đến NAFIQAD.

Ngoài ra, để giảm bớt thiệt hại cho hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản giữa hai nước, đề nghị Ông tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các yêu cầu vệ sinh thú y của Liên minh Hải quan được tiếp tục xuất khẩu thủy sản nói chung và sản phẩm cá tra nói riêng vào Liên minh Hải quan.

Trân trọng.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
– Cục trưởng (để b/c);
– ĐSQ, TV VN tại LB Nga;
– ĐSQ, TV LB Nga tại VN;
– Lưu: VT, CL1.
– VASEP.

PHÓ CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ CL NLTS

Trần Bích Nga

 

Công văn 139/QLCL-CL1 năm 2014 gửi Thủ trưởng Cơ quan Kiểm dịch động thực vật do Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản ban hành

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CỤC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NÔNG LÂM SẢN VÀ THỦY SẢN
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 140/QLCL-CL1
V/v: VPSS đình chỉ nhập khẩu cá tra của Việt Nam từ tháng 31/01/2013

Hà Nội, ngày 23 tháng 01 năm 2014

 

Kính gửi: Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và website của Cục Kiểm dịch động thực vật Liên Bang Nga (VPSS), Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) được biết ngày 17/01/2014, VPSS đã có văn bản số ФC-HB-8/668 thông báo đến các Cơ quan kiểm soát cửa khẩu của VPSS về việc đình chỉ 05 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản đã được Đoàn VPSS thanh tra tháng 12/2013 và đình chỉ nhập khẩu sản phẩm cá tra vào LB Nga của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam kể từ ngày 31/01/2014 với lý do "liên quan đến tính chất nghiêm trọng của những vi phạm trong hệ thống của Việt Nam về đảm bảo an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi sản xuất từ nuôi trồng đến xuất khẩu bị phát hiện trong quá trình thanh tra", (chi tiết xin xem tại Phụ lục gửi kèm). Về vấn đề này, Cục Quản lý Chất lượng NLS&TS báo cáo Bộ trưởng như sau:

1. Về việc tạm đình chỉ 05 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản được thanh tra tháng 12/2013 và đình chỉ nhập khẩu sản phẩm cá tra vào LB Nga của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam:

- Ngay sau chuyến thanh tra của VPSS tại Việt Nam, ngày 10/12/2013, Cục Quản lý Chất lượng NLS&TS đã có công thư số 2325/QLCL-CL1 gửi VPSS trao đổi một số vấn đề bất cập, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và hướng dẫn của Ủy ban Codex đối với Đoàn thanh tra VPSS tại Việt Nam trong tháng 12/2013. Ngoài ra, căn cứ Biên bản Hội đàm giữa NAFIQAD và VPSS tại Mátxcơva ngày 16/10/2013 và nội dung đã thống nhất tại cuộc họp kết thúc thanh tra giữa NAFIQAD với Đoàn thanh tra, NAFIQAD đã đề nghị VPSS sớm gửi cho NAFIQAD dự thảo báo cáo kết quả chuyến thanh tra để NAFIQAD có ý kiến góp ý trước khi VPSS thông báo chính thức. Tuy nhiên, đến nay Cục vẫn chưa nhận được bất cứ văn bản nào của VPSS về kết quả chuyến thanh tra nêu trên. Việc VPSS đơn phương đình chỉ 05 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản được thanh tra và đình chỉ nhập khẩu sản phẩm cá tra vào LB Nga của tất cả các doanh nghiệp Việt Nam kể từ ngày 31/01/2014 khi chưa có thông báo chính thức về kết quả thanh tra là chưa phù hợp với nội dung Biên bản hội đàm giữa NAFIQAD và VPSS ngày 16/10/2013 cũng như thông lệ quốc tế.

- Ngoài ra, việc thông báo quyết định đình chỉ nói trên của VPSS cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế và Tiêu chuẩn Codex số CAC/GL 26-1997 (phiên bản 5) về hướng dẫn cho việc thiết lập, vận hành, đánh giá và công nhận hệ thống kiểm tra và chứng nhận xuất nhập khẩu thực phẩm. Theo đó, để tránh gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu thực phẩm của các doanh nghiệp, Cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu có trách nhiệm thông báo kết quả đánh giá chính thức đến Cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu trước khi cung cấp thông tin đến các cơ quan thông tấn, báo chí.

2. Về Đoàn thanh tra của VPSS sang làm việc tại Việt Nam tháng 12/2013:

a. Một số khuyến cáo của Đoàn thanh tra:

- Đoàn thanh tra cho rằng các doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam chưa được cập nhật, phổ biến các quy định của Liên minh Hải quan; sản phẩm chưa được kiểm tra, chứng nhận theo yêu cầu của Liên minh Hải quan mà chỉ thực hiện theo quy định của LB Nga (VD: quy định về mạ băng, giới hạn ô nhiễm vi sinh vật,…). Về vấn đề này, sau nhiều lần Cục có văn bản đề nghị VPSS cung cấp các quy định của Liên minh Hải quan, đến ngày 13/11/2013 VPSS mới có văn bản số FS-NV-7/15577 cung cấp địa chỉ website đăng tải các quy định này (khối lượng tài liệu lớn, bằng tiếng Nga) nên Cục mới kịp cập nhật, thông báo trên website của Cục.

- Về tình hình kiểm soát an toàn môi trường, dịch bệnh cá tra, Đoàn thanh tra cho rằng hoạt động kiểm soát chưa đáp ứng yêu cầu (chưa rõ thủ tục cấp phép cơ sở nuôi; chưa có giấy chứng nhận dịch bệnh kèm theo lô nguyên liệu; vận chuyển nguyên liệu bằng thuyền thông thủy không kiểm soát được chất lượng nước;…). Việc kiểm soát kinh doanh, sử dụng hóa chất, kháng sinh trong quá trình nuôi trồng thủy sản chưa đáp ứng yêu cầu.

- Về vấn đề phiên dịch, Đoàn thanh tra cho rằng phiên dịch không có hiểu biết về chuyên môn, gây nhiều khó khăn trong quá trình làm việc. Mặc dù trước thời điểm thanh tra, Cục đã có văn bản gửi VPSS đề nghị Đoàn thanh tra tự bố trí phiên dịch để bảo đảm tính khách quan trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, Đoàn khi đến Việt Nam, Đoàn vẫn yêu cầu Cục bố trí phiên dịch và chịu hoàn toàn chi phí có liên quan. Để không ảnh hưởng đến kết quả thanh tra, Cục đã kịp thời bố trí phiên dịch cho các Đoàn thanh tra. Sau chuyến thanh tra, Cục cũng đã có văn bản gửi VPSS nêu rõ việc này là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và các hướng dẫn của Ủy ban CODEX; đồng thời đề nghị VPSS tự bố trí phiên dịch trong các đợt thanh tra trong thời gian tới để bảo đảm tính khách quan trong quá trình thanh tra.

b. Nhận xét về cách thức làm việc của Đoàn thanh tra:

- Về cách thức lựa chọn doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu vào danh sách được thanh tra, Đoàn thanh tra chưa thực hiện đúng nội dung Biên bản tọa đàm đã được hai bên thống nhất và ký kết tại Mátxcơva tháng 10/2013.

- Tại buổi họp kết thúc chuyến thanh tra và tại từng đơn vị/cơ sở, Đoàn không thông báo sơ bộ kết quả kiểm tra cũng như sai lỗi được phát hiện. Đoàn thông báo chỉ thu thập thông tin, bằng chứng và sẽ xử lý báo cáo Lãnh đạo VPSS khi Đoàn trở về Mátxcơva.

Mặc dù hệ thống kiểm soát ATTP của Việt Nam còn một số sai lỗi, đặc biệt là trong quản lý nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, tại cùng thời điểm (tháng 12/2013), Đoàn thanh tra của Cơ quan nhà nước về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật Ucraina (SVPS) sang đánh giá hệ thống kiểm soát ATTP thủy sản của Việt Nam là phù hợp với quy định của Ucraina. Kết quả, SVPS đã dỡ bỏ lệnh đình chỉ nhập khẩu đối với thủy sản Việt Nam và cho phép 10 doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu ca tra và Ucraina. Vì vậy, việc VPSS kết luận "phát hiện những vi phạm nghiêm trọng trong hệ thống kiểm soát của Việt Nam" là chưa hoàn toàn phù hợp.

3. Về đề xuất, kiến nghị:

- Cục đã có văn bản đề nghị Đại sứ quán, Thương vụ Việt Nam tại LB Nga bố trí làm việc trực tiếp với VPSS và chuyển tiếp văn bản của Cục đề nghị VPSS thông báo chính thức kết quả đánh giá của Đoàn thanh tra hệ thống kiểm soát của Việt Nam, giải thích rõ "những hành vi nghiêm trọng trong hệ thống của Việt Nam bị phát hiện trong quá trình thanh tra"; cung cấp kết quả thanh tra chi tiết tại từng doanh nghiệp để có căn cứ hướng dẫn các doanh nghiệp áp dụng các biện pháp khắc phục. Đồng thời, để giảm bớt thiệt hại cho hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu thủy sản giữa hai nước, đề nghị VPSS tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các yêu cầu vệ sinh thú y của Liên minh Hải quan được tiếp tục xuất khẩu thủy sản nói chung và sản phẩm cá tra nói riêng vào Liên minh Hải quan.

- Cục kính đề nghị Bộ trưởng xem xét, chỉ đạo để Bộ NN&PTNT đề nghị các Bộ: Ngoại giao, Công Thương có ý kiến, yêu cầu phía LB Nga có giải thích chính thức, phù hợp với thông lệ quốc tế về vấn đề Cục đã trình bày nêu trên.

Kính trình Bộ trưởng xem xét, chỉ đạo.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
– TT Nguyễn Thị Xuân Thu (để b/c);
– TT Vũ Văn Tám (để b/c);
– Cục trưởng (để b/c);
– Lưu: VT, CL1.
– VASEP

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG

Trần Bích Nga

 

Công văn 140/QLCL-CL1 năm 2014 về Cục Kiểm dịch động thực vật Liên Bang Nga đình chỉ nhập khẩu cá tra của Việt Nam từ tháng 31/01/2013 do Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản ban hành